Hoạt động khoa học và công nghệ địa phương luôn được đặt ra cùng với quá trình phát triển của nền khoa học và công nghệ nước nhà. Với những thành tựu vượt bậc trong thời kỳ đổi mới, khoa học và công nghệ đã tạo nên những bước tiến lớn trên tất cả các lĩnh vực: nông nghiệp, lâm nghiệp, chăn nuôi - thú y, thuỷ sản, y tế, bảo vệ môi trường, xây dựng…, góp phần làm thay đổi bộ mặt của kinh tế địa phương; ngày càng khẳng định vai trò quan trọng của mình hơn bao giờ hết đối với công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Đầu những năm 1980, hoạt động KH&CN chỉ được giao cho các tổ chức KH&CN Nhà nước, và cũng chỉ những tổ chức đó có thể tiến hành các hoạt động KH&CN. Năm 1987, Nhà nước cho phép mọi hình thức liên kết giữa các nhà nghiên cứu trong khuôn khổ một tập thể tự nguyện, đây là một bước xoá bỏ quan niệm hành chính hóa khoa học. Nhà nước cho phép các đối tác được định giá sản phẩm khoa học theo một số phương thức thích hợp, kể cả việc chấp nhận giá thoả thuận với nhau; cho phép các cơ sở sản xuất, kinh doanh sử dụng nguồn vốn tự có và coi như tự có để đầu tư cho hoạt động KH&CN.
Quyết định 419/TTg ngày 21/7/1995 của Thủ tướng chính phủ lần đầu tiên đã khẳng định: hoạt động nghiên cứu và ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ, đầu tư cho phát triển KH&CN là nhiệm vụ của các cơ quan KH&CN, của các cấp, các ngành ở Trung ương và địa phương, của các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, các tổ chức xã hội và tư nhân; và cho phép tuyển chọn các đơn vị và các nhà khoa học thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu KH&CN theo hợp đồng đặt hàng.
Các cơ chế, chính sách này đã rộng đường cho các nhà khoa học, các tổ chức KH&CN, nhất là các tổ chức KH&CN Trung ương tham gia giải quyết những nhu cầu KH&CN đặt ra tại các địa phương.
Sau 50 năm, nhân lực KH&CN ở các địa phương đã có 4140 cán bộ quản lý nhà nước. Đội ngũ cán bộ này đã và đang phối hợp, liên kết chặt chẽ với các nhà khoa học thuộc các tổ chức KH&CN trung ương nhằm giải quyết một cách hiệu quả các vấn đề KH&CN đặt ra tại địa phương.
Mỗi năm, khoảng 45% kinh phí nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ của các tỉnh, thành phố được giao cho các tổ chức KH&CN Trung ương (các Viện, các trường Đại học) thông qua thực hiện các nhiệm vụ KH&CN. Bên cạnh đó, hàng năm, Nhà nước đầu tư hàng trăm nhiệm vụ KH&CN trọng điểm cấp nhà nước tập trung vào giải quyết những vấn đề KH&CN có tính quốc gia, liên vùng, vùng để nhằm giải quyết những vấn đề khoa học và công nghệ cho các địa phương.
Trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn: các kết quả nghiên cứu đã cung cấp các luận cứ khoa quan trọng cho việc đề ra các chủ trương, chính sách phát triển KT-XH; giải quyết các vấn đề phát triển nông nghiệp và nông thôn; các giải pháp phát triển nguồn nhân lực của địa phương; giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc; đề xuất các giải pháp quản lý KT-XH có hiệu quả…
Nhận thức của xã hội về vai trò của khoa học và công nghệ đối với phát triển kinh tế-xã hội được nâng lên đáng kể. Nhân dân bước đầu có khả năng tiếp thu, vận dụng các tiến bộ kỹ thuật vào các lĩnh vực sản xuất và cải thiện đời sống. Nông dân đã ứng dụng các giống mới và tiến bộ kỹ thuật để tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, phát triển nhiều ngành nghề, mở ra các hướng làm ăn mới. Đồng bào miền núi đã ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ khai thác kinh tế gò đồi, trồng cây công nghiệp; ngư dân nuôi trồng hải sản theo phương pháp hiện đại, đóng tàu đánh bắt hải sản xa bờ.
Trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn, đóng góp nổi bật nhất của hoạt động này là đưa nhanh các tiến bộ kỹ thuật vào trồng trọt, chăn nuôi; tập trung nghiên cứu giống cây trồng, con nuôi phù hợp với điều kiện từng vùng, từng địa phương:
Đối với cây lương thực: Chương trình giống đã mang lại hiệu quả lớn, đến nay trên 90% diện tích lúa được trồng bằng giống cải tiến (giống lúa mới chọn tạo, nhập nội và thích nghi), trên 85% diện tích ngô trồng bằng giống ngô lai. Nhiều giống lúa chịu phèn, chua, mặn, chịu hạn,… được áp dụng sản xuất đại trà, góp phần mở rộng diện tích trồng lúa nhất là ở Đồng bằng sông Cửu Long.
Hiện nay, bài toán 50 triệu đồng/ha của đồng bằng sông Hồng những năm trước, giờ đây đã có nhiều mô hình 500 triệu đồng/ha ở Thái Bình, 1.000 triệu đồng ở Bắc Ninh,…
Từ chỗ chưa có tên trên "Bản đồ thế giới" về cà phê xuất khẩu vào trước thời kỳ đổi mới, các địa phương và các nhà khoa học đã tiến hành hàng loạt những nghiên cứu về giống, thổ nhưỡng, kỹ thuật chăm sóc, phòng trừ bệnh, phương pháp thu hoạch, chế biến…
Cùng với các nhà khoa học từ các tổ chức KH&CN trung ương, cùng với những hỗ trợ của các cơ quan trung ương, hoạt động KH&CN địa phương, những năm qua, đã có những những đóng góp vô cùng to lớn trong phát triển kinh tế - xã hội, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đổi mới phương thức canh tác, tổ chức sản xuất, kinh doanh; góp phần xóa đói, giảm ngèo, nâng cao chất lượng sống cho mọi người dân, nhất là ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa.
Hồ Ngọc Luật |