Ngày 3/4/2007, Viện Công nghệ Vũ trụ Việt Nam chính thức ra mắt. Phóng viên Báo KH&PT đã có cuộc trao đổi với Gs. Đặng Vũ Minh, Chủ tịch Viện KH&CN Việt Nam về khả năng phát triển công nghệ vũ trụ ở Việt Nam.
Sau chương trình khoa học của chuyến bay vũ trụ phối hợp Xô-Việt, chương trình nghiên cứu “Ứng dụng thành tựu nghiên cứu và sử dụng khoảng không vũ trụ thực hiện giai đoạn 1981-1985, Nhà nước đã đầu tư nhiều phòng thí nghiệm phục vụ nghiên cứu KH&CN liên quan đến công nghệ vũ trụ cho Viện KH&CN Việt Nam, Trung tâm KHKT quân sự và một số trường Đại học. Đây là tiền đề quan trọng để xây dựng cơ sở nghiên cứu thí nghiệm và ứng dụng công nghệ vũ trụ ở nước tạ Và công nghệ vũ trụ đã được vận dụng sớm, có hiệu quả vào nhiều lĩnh vực: khí tượng - thuỷ văn, thông tin liên lạc, viễn thám, định vị vệ tinh, phục vụ đắc lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội ở nước tạ
PV: Xin Gs cho biết những khó khăn trong phát triển công nghệ này ở Việt Nam?
Gs. Đặng Vũ Minh: Do nền kinh tế nước ta còn thấp nên việc nghiên cứu và ứng dụng CNVT đang còn phân tán, thiếu định hướng và chưa phối hợp tốt giữa các ngành. Hạ tầng kỹ thuật công nghệ vũ trụ chưa có gì đáng kể, lực lượng cán bộ chuyên môn quá ít. Trong tổ chức quản lý, chúng ta chưa có một cơ quan quốc gia đủ năng lực tổ chức phối hợp nghiên cứu phát triển và ứng dụng công nghệ vũ trụ.
PV: Thưa Gs, chúng ta phải làm gì trước những khó khăn đó?
Gs. Đặng Vũ Minh: Tôi cho rằng không nên nôn nóng mà cần bình tĩnh đánh giá đúng thực lực của mình. Theo tôi, cần sớm ban hành chính sách quốc gia về khung pháp lý về nghiên cứu, ứng dụng và hợp tác quốc tế; có những chủ trương và chính sách cụ thể nhằm đảm bảo nguồn nhân lực, vốn đầu tư cho nghiên cứu và triển khai ứng dụng.
PV: Với chức năng đầu ngành về CNVT, sắp tới công việc của Viện sẽ là gì?
Gs. Đặng Vũ Minh: Viện sẽ tập trung vào: Nghiên cứu tiếp thu, làm chủ và phóng vệ tinh nhỏ quan sát trái đất, trạm thu mặt đất, phục vụ nhu cầu nghiên cứu khoa học, phát triển KT-XH và quốc phòng an ninh; Xây dựng tiềm lực KH&CN vũ trụ Việt Nam đến năm 2010 có đủ năng lực thiết kế, chế tạo các loại vệ tinh nhỏ, thiết kế và chế tạo các trạm thu mặt đất; phát triển thiết bị vũ trụ mang tính thương mại; Nghiên cứu tiếp nhận chuyển giao công nghệ viễn thám, công nghệ định vị toàn cầụ Đến 2020, sẽ đưa vào ứng dụng những vệ tinh quan sát có độ phân giải siêu cao, vệ tinh định vị độ chính xác cao và những thiết bị mặt đất gọn nhẹ tích hợp nhiều chức năng
PV: Xin cảm ơn Giáo sự
Thành Ý (thực hiện) |