|
Ngày 5/3/2009, Bộ Tài nguyên và Môi trường ra quyết định số 253/QĐ-BTNMT về Chương trình cấp nhãn sinh thái hay Chương trình nhãn môi trường xanh Việt Nam (gọi tắt là Nhãn xanh Việt Nam). Hiện nay, việc triển khai Nhãn sinh thái đã có ở nhiều nước trên thế giới, do những đặc tính ưu việt của các sản phẩm được dán nhãn sinh thái (nhãn môi trường).
Phóng viên Khoa học và Phát triển đã có cuộc trao đổi với ông Hoàng Danh Sơn - Phó vụ trưởng Vụ chính sách và pháp chế - Tổng cục Môi trường Việt Nam xung quanh vấn đề này.
Phóng viên: Thưa ông, ông có thể cho biết Nhãn sinh thái là gì?
Ông Hoàng Danh Sơn: Nhãn sinh thái còn được gọi là nhãn môi trường. Hiện nay ở Việt Nam, trong các văn bản cũng chưa đưa ra một định nghĩa chính thức về nhãn sinh thái. Tuy nhiên, chúng ta có một cách hiểu chung nhất về nhãn sinh thái như sau: Nhãn sinh thái là một loại nhãn mác cung cấp thông tin cho người tiêu dùng về sự thân thiện hơn với môi trường của sản phẩm, hoặc dịch vụ so với các sản phẩm hoặc dịch vụ khác.
Phóng viên: Việc các sản phẩm được dán nhãn sinh thái có những lợi ích gì thưa ông?
Ông Hoàng Danh Sơn: Một sản phẩm hoặc dịch vụ được cấp nhãn sinh thái tức là nó được công nhận ở một mặt nào đó có ý nghĩa với môi trường. Như vậy nó sẽ tác động vào người tiêu dùng. Người tiêu dùng thông minh sẽ hiểu rằng sản phẩm được cấp nhãn sinh thái có lợi cho môi trường và cho sức khỏe, do đó, người ta sẽ có xu hướng sử dụng những sản phẩm này nhiều hơn. Như vậy, nhãn sinh thái một mặt giúp cho doanh nghiệp tiêu thụ được sản phẩm hàng hóa trên thị trường, có cơ hội hội nhập cao hơn vào thị trường thế giới. Đồng thời, nhãn sinh thái cũng giúp cho người tiêu dùng nhận ra rằng đây là sản phẩm tốt cho chính họ. Cả hai bên người tiêu dùng và doanh nghiệp cùng có lợi. Và như thế, đương nhiên về mặt xã hội thì nền kinh tế quốc gia được phát triển khi các doanh nghiệp phát triển tốt.
Đặc biệt, trong quá trình hội nhập hiện nay, nhãn sinh thái càng có ý nghĩa khi chúng ta tham gia vào các thị trường lớn và mạnh trên thế giới với những hàng rào kĩ thuật chặt chẽ. Nhãn sinh thái làm cho các doanh nghiệp nhận thức ra được yêu cầu của việc nâng cao chất lượng, khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư mạnh hơn theo hướng phát triển bền vững.
Phóng viên: Công tác triển khai chương trình Nhãn sinh thái ở Việt Nam hiện nay theo ông có những khó khăn gì?
Ông Hoàng Danh Sơn: Triển khai chương trình Nhãn sinh thái ở Việt Nam thực sự cũng gặp nhiều khó khăn. Nhìn chung, chúng ta thấy sản phẩm hàng hóa của các doanh nghiệp Việt Nam có chất lượng thấp, nó phản ánh các doanh nghiệp của chúng ta có năng lực tương đối yếu so với thế giới. Đó cũng là một cản trở cho chương trình nhãn sinh thái. Ở nước ta hiện nay, tỉ lệ chi cho môi trường trong các sản phẩm rất thấp. Các doanh nghiệp phải đạt được các yêu cầu bảo vệ môi trường thì mới được gắn nhãn, nghĩa là phải bỏ ra một khoản tiền để đầu tư vào tới mức 20% tổng chi phí sản phẩm dành cho hàng hóa. Đó chính là khó khăn về mặt tài chính.
Những khó khăn về nội lực doanh nghiệp, về tài chính, về nguồn lực tri thức và công nghệ là bài toán đang đặt ra cho chương trình nhãn sinh thái Việt Nam.
Phóng viên: Chúng ta có những chính sách gì để hỗ trợ doanh nghiệp, nhà sản xuất tham gia chương trình Nhãn sinh thái không, thưa ông?
Ông Hoàng Danh Sơn: Gần đây, năm 2009, Chính phủ đã ban hành nghị định số 04 về ưu đãi hỗ trợ hoạt động bảo vệ môi trường. Đây là một trong những văn bản cấp Chính phủ lớn đầu tiên đưa ra nhiều ưu đãi đối với doanh nghiệp trong nhiều lĩnh vực sản xuất kinh doanh liên quan đến bảo vệ môi trường. Ví dụ như: Những ưu đãi về thuế thu nhập, thuế xuất khẩu, về hỗ trợ tiêu thụ và hỗ trợ về giá cho doanh nghiệp đối với những sản phẩm được cấp nhãn sinh thái, hỗ trợ về mặt quảng bá sản phẩm.
Xin cảm ơn ông!
Vũ Đức Hoan
|